BÁC HỒ!

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên


    Chào mừng quý vị đến với website của Nguyễn Quỳnh Duyên

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    NGƯỜI BANA

    6877796 Tên tự gọi: Ba Na. Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông... Nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem. Dân số: 136.859 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Lịch sử: Dân tộc Ba Na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây. Họ là tộc người có dân...

    NGƯỜI BỐ Y

    6877795 " " Tên tự gọi: Bố Y. Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia... Nhóm địa phương: Bố Y và Tu Dí. Dân số: 1.420 người. Ngôn ngữ: Nhóm Bố Y nói ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), còn nhóm Tu Dí nói ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng). Lịch sử: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc sang cách đây khoảng 150 năm. Hoạt động sản xuất: Người Bố Y vốn giỏi làm ruộng nước nhưng đến Việt Nam cư trú ở vùng cao nên...

    NGƯỜI BRÂU

    6877794 " " Tên gọi khác: Brao. Dân số: 231 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Lịch sử: Người Brâu chuyển cư vào Việt Nam cách đây khoảng 100 năm. Vùng Nam Lào và Ðông Bắc Campuchia là nơi sinh tụ của người Brâu. Hiện nay, đại bộ phận cộng đồng này vẫn quần cư trên lưu vực các dòng sông Xê Xan (Xê Ca Máng) và Nậm Khoong (Mê Kông). Người Brâu có truyền thuyết Un cha đắc lếp (lửa...

    NGƯỜI BRU-VÂN KIỀU

    6877788 Tên tự gọi: Có người cho Bru là tên tự gọi. Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều. Nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong. Dân số: 40.132 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với Tiếng Tà Ôi, Cơ Tu. Chữ viết mới hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm có một số từ vựng không giống nhau. Lịch sử: Họ thuộc số dân cư được coi là có nguồn...

    NGƯỜI CHĂM

    6877782 " " Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời... Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc. Dân số: 98.971 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ...

    NGƯỜI CHU-RU

    6877769 Tên gọi khác: Chơ Ru, Kru, Thượng. Dân số: 10.746 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynêxia, (ngữ hệ Nam Ðảo), gần với tiếng Chăm. Có một bộ phận người Chu Ru sống gần với người Cơ Ho nên nói tiếng Cơ Ho (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me). Lịch sử: Có lẽ xa xưa, tổ tiên người Chu Ru là một bộ phận trong khối cộng đồng Chăm; về sau, họ chuyển lên miền núi sống biệt lập với cộng đồng...

    NGƯỜI CHƠ RO

    6877768 Tên gọi khác: Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng. Dân số: 15.022 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Lịch sử: Họ là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở miền núi Nam Ðông Dương. Người Chơ Ro cư trú ở vùng núi thấp, nhiều sống suối. Họ không chỉ dùng lá độc cùng các loại công cụ như: rổ, đó... để đánh bắt tôm cá mà còn đan đó đnông để nhốt cá, dự trữ thức ăn. ...

    NGƯỜI CHỨT

    6877758 Tên tự gọi: Chứt. Tên gọi khác: Rục, Arem, Sách. Nhóm địa phương: Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng. Dân số: 2.427 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á). Người Chứt (nhóm Rục) có kỹ thuật trèo cây nổi tiếng để lấy mật ở các tổ ong trên cây cao. Họ leo thang bằng dây mây. Mỗi nấc thang là một vòng dây buộc vào thân cây, có chỗ đặt bàn chân. Leo đến đâu, buộc vòng thang...

    NGƯỜI CO

    6877757 " " Tên tự gọi: Cor, Col. Tên gọi khác: Cua, Trầu. Dân số: 22.649 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi các dân tộc khác trong vùng bắc Tây Nguyên và lân cận như: Hrê, Xơ Ðăng, Ba Na... Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975 trên cơ sở dùng chữ cái La-tinh. Hiện nay chữ viết này không không phổ biến nữa. Trước đây người Co cũng dựng nhà mồ cho người...

    NGƯỜI CỐNG

    6877745 Tên tự gọi: Xắm khôống, Phuy A. Dân số: 1.261 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng) gần hơn với tiếng Miến, cùng nhóm với các tiếng La Hủ, Phù Lá, Si La... Họ quen sử dụng tiếng Thái trong giao dịch hàng ngày. Chiếu mây, sản phẩm thủ công nổi tiếng của người Cống. Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Lịch sử: Người Cống có nguồn gốc di cư trực tiếp từ Lào sang....

    NGƯỜI CƠ HO

    6877743 Tên tự gọi: Cơ Ho. Nhóm địa phương: Xrê, Nộp (Tu nốp), Cơ Dòn, Chil, Lát (Lách), Tơ Ring (Tring). Dân số: 92.190 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Lịch sử: Người Cơ Ho có lịch sử cư trú lâu đời ở Tây Nguyên. Hoạt động sản xuất: Trừ nhóm Xrê làm ruộng nước theo đúng tên gọi của nó (Xrê - ruộng nước), còn các nhóm khác làm rẫy (mir) du canh theo chu kỳ. Nhìn chung kỹ thuật...

    NGƯỜI CỜ LAO

    6877739 Tên tự gọi: Cờ Lao. Tên gọi khác: Tứ Ðư, Ho Ki, Voa Ðề. Nhóm địa phương: Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Ðỏ. Dân số: 1.473 người. Lịch sử: Người Cờ Lao chuyển cư tới Việt Nam cách đây khoảng 150 - 200 năm. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai, cùng nhóm với tiếng La Ha, La Chí, Pu Péo (ngữ hệ Thái - Ka Ðai). Trước đây, các nhóm địa phương có phương ngữ khác nhau nhưng hiện nay đa...

    NGƯỜI CƠ TU

    6877718 Tên tự gọi: Cơ Tu. Tên gọi khác: Ca Tu, Ka Tu. Dân số: 36.967 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà Ôi, Bru - Vân Kiều. Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm 1975, trên cơ sở dùng chữ La-tinh để phiên âm, nhưng nay ít người sử dụng. Gắn liền với việc giã gạo hàng ngày, phải có nia sảy. Người Cơ Tu dùng loại nia hình lá dề, đan...

    NGƯỜI DAO

    6877702 Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng). Tên gọi khác: Mán. Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài). Dân số: 473.945 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông -...

    NGƯỜI Ê - ĐÊ

    6877697 Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê. Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, £pan... Dân số: 194.710 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói của người ê Ðê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Lịch sử: Người ê Ðê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc ê Ðê...

    NGƯỜI GIÁY

    6877695 Tên tự gọi: Giáy Tên gọi khác: Nhắng, Giẳng Dân số: 37.964 người Ngôn ngữ: Tiếng Giáy thuộc ngữ hệ Thái - Ka Ðai. Lịch sử: Người Giáy từ Trung quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 năm. Làm ngói là một trong những nghề thủ công của người Giáy ở Hà Giang. Ngói Âm dương (ngói máng) được tạo dáng bằng bàn xoay tạo hình ống, phơi khô rồi cắt lát trước khi đưa vào lò nung. Hoạt động sản xuất: Người Giáy có nhiều...

    NGƯỜI GIA - RAI

    6877693 Tên tự gọi: Gia Rai. Tên gọi khác: Giơ Ray, Chơ Ray. Nhóm địa phương: Chor, Hđrung (gồm cả Hbau, Chor), Aráp, Mthur, Tơbuân. Dân số: 242.291 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ hệ Malayô Pôlynêixa (ngữ hệ Nam Ðảo). Lịch sử: Dân tộc Gia Rai là một trong những cư dân sớm sinh tụ ở vùng núi Tây Nguyên, lan sang một phần đất Campuchia. Trong xã hội Gia Rai xưa đã có Pơ tao ia (vua nước) và Pơ tao pui (vua lửa) chuyên...

    NGƯỜI GIÉ-TRIÊNG

    6877686 Tên tự gọi: Mỗi nhóm có tên tự gọi riêng như: Gié, Triêng, Ve, Bnoong. Tên gọi khác: Cà Tang, Giang Rẫy. Nhóm địa phương: Gié (Giẻ), Triêng (T’riêng), Ve, Bnoong (Mnoong). Nhóm Gié đông hơn cả. Dân số: 26.924 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ Ðăng, Ba Na. Giữa các nhóm tiếng nói có những sự khác nhau nhất định. Chữ viết hình thành trong thời kỳ trước năm 1975, cấu tạo...